Ban Quan hệ Lao động Tổng LĐLĐ Việt Nam trả lời: Khoản 1 điều 45 Luật Việc làm quy định: Thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đồng làm việc (HĐLV) theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN). Theo quy định tại điều 16 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12-3-2015 của Chính phủ thì hồ sơ đề nghị hưởng TCTN gồm: Đề nghị hưởng TCTN theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định; bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng: HĐLĐ, HĐLV đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo lao động; quyết định thôi việc; quyết định sa thải; quyết định kỷ luật buộc thôi việc; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV. Trường hợp người lao động làm việc theo HĐLĐ mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó.

Thời gian trước khi nghỉ việc, nếu bà có đóng BHTN mà chưa hưởng TCTN thì khi vào làm tại công ty khác có đóng BHTN, bà sẽ được cộng dồn thời gian đóng BHTN chưa hưởng ở công ty cũ cho đến khi bà chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV, bà nộp hồ sơ đề nghị hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm nơi bà muốn nhận TCTN.